Gen trị liệu

FDA chấp thuận liệu pháp CAR-T đầu tiên trong điều trị u lympho tế bào vỏ

Triển khai xét nghiệm giải trình tự gen thế hệ mới - NGS tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai

CN. Nguyễn Thị Thu Giang (Lược dịch và tổng hợp)

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai

 

Tại ESMO 2018 đã trình bày những kết quả của sự thay đổi thực hành lâm sàng trong nghiên cứu SOLO-1 và sau đó công bố trên Tạp chí New England Journal of Medicine.[1] Nghiên cứu này tập trung vào liệu pháp duy trì olaparib sau hóa trị trên phụ nữ mắc ung thư buồng trứng giai đoạn tiến triển. Những bệnh nhân nữ có đột biến BRCA đã cho kết quả rất tốt, tỷ lệ sống bệnh không tiến triển (PFS) được cải thiện đáng kể. Do đó, olaparib được chấp thuận tại nhiều quốc gia trên thế giới.

Từ đó đã nảy sinh ra nhiều câu hỏi quan trọng: Liệu có thể có nhiều phụ nữ hơn được hưởng lợi từ những chất ức chế poly(ADP)-ribose polymerase (PARP)? Liệu những liệu pháp kết hợp sẽ giúp làm tăng thêm hiệu quả điều trị? Ba nghiên cứu được trình bày tại phiên tổng thể của ESMO 2019 đã giúp giải quyết một số những câu hỏi này.

Nghiên cứu PRIMA

Giáo sư Antonio Gonzalez-Martin đã trình bày dữ liệu về PRIMA.[2] Đây là một nghiên cứu ngẫu nhiên đa quốc gia từ các nhóm châu Âu và Mỹ trên hơn 700 phụ nữ mắc ung thư buồng trứng giai đoạn tiến triển điều trị bước đầu, đặc biệt là những bệnh nhân đang ở nguy cơ cao của giai đoạn IV hoặc có ung thư sau phẫu thuật. Sau hóa trị, những bệnh nhân này được điều trị duy trì niraparib hoặc placebo.

Trong những phụ nữ bị thiếu hụt tái tổ hợp tương đồng (HDR) đã có sự cải thiện thời gian PFS đáng kể 57% (tỉ suất nguy cơ [HR] là 0,43). HR 0,43 đã cho thấy những ý nghĩa trong thực hành lâm sàng: PFS trung bình tăng từ khoảng 10 tháng đến hơn 21 tháng, tức đã tăng gấp đôi. Cũng có sự cải thiện có ý nghĩa thống kê của PFS 38% trong toàn bộ những bệnh nhân tham gia nghiên cứu (HR 0,62). Các nhà nghiên cứu tìm hiểu dưới nhóm là những bệnh nhân đầy đủ hoặc thiếu hụt HDR, họ nhận thấy rằng có sự cải thiện có ý nghĩa thống kê trên những phụ nữ có khối u tái tổ hợp tương đồng bình thường (HR 0,68).

Nghiên cứu này cũng có thể bao hàm tất cả những phụ nữ mắc ung thư buồng trứng tiến triển (ung thư nội mạc tử cung và huyết thanh mức cao) có thể được hưởng lợi khi điều trị duy trì niraparib.

Nghiên cứu PAOLA-1

PAOLA-1[3] là một nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên pha III trên hơn 800 phụ nữ cho thấy sự cải thiện đáng kể về PFS (HR 0,59) trên tất cả những người tham gia nghiên cứu được điều trị bevacizumab và olaparib so với điều trị duy trì bevacizumab đơn thuần. Nghiên cứu này đưa ra kết luận những bệnh nhân có đột biến BRCA có hiệu quả điều trị tốt nhất, tiếp theo là nhóm bệnh nhân có HRD, không có sự cải thiện đáng kể trên những bệnh nhân có đầy đủ HDR (HR 0,92).

Nghiên cứu VELIA

VELIA[4] là một nghiên cứu về hiệu quả của chất ức chế PARP veliparib khi kết hợp với hóa trị và sau đó được tiếp tục sử dụng như liệu pháp duy trì. Các kết quả được trình bày cho thấy sự cải thiện PFS trên những bệnh nhân được điều trị bằng veliparib. Điều này đã đưa ra một kết luận tương tự: những bệnh nhân có đột biến BRCA có đáp ứng tốt hơn những người có HDR nhưng những cải thiện đáng kể được thấy trên cả hai nhóm.

Tổng hợp lại

Bác sĩ Susana Banerjee cho rằng ba nghiên cứu này đã cho thấy ngày càng nhiều phụ nữ có cơ hội được điều trị hiệu quả từ chất ức chế PARP trong điều trị bước đầu như điều trị duy trì ngoài những phụ nữ có đột biến BRCA.

Câu hỏi mấu chốt tiếp theo là: Một số bệnh nhân có thể được đơn trị chất ức chế PARP hay không? Hay liệu kết hợp với bevacizumab có cho hiệu quả điều trị không? Liệu những bệnh nhân có đột biến BRCA sẽ được điều trị hiệu quả từ olaparib hay những bệnh nhân không mang đột biến BRCA sẽ được điều trị hiệu quả với niraparib? Bệnh nhân nào có thể được điều trị hiệu quả khi kết hợp với bevacizumab?

Điều quan trọng đối với một bác sĩ thực hành lâm sàng là làm thế nào để có giảm thiểu các tác dụng phụ chất ức chế PARP điều trị đơn thuần và kết hợp? Mấu chốt là phải hiểu làm thế nào để kiểm soát được các độc tính, sự gián đoạn liều và giảm liều để chúng ta ngày càng có nhiều bệnh nhân được điều trị hiệu quả và lâu bền hơn.

Qua những nghiên cứu này đã cho chúng ta thấy những nghiên cứu được thiết kế tốt và có sự hợp tác quốc tế, chúng ta có thể hy vọng cải thiện được hiệu quả điều trị cho những phụ nữ mắc bệnh ung thư buồng trứng. Chẳng hạn như hiệu quả điều trị đã được cải thiện khi kết hợp bevacizumab với olaparib.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Moore K, Colombo N, Scambia G, et al. Maintenance olaparib in patients with newly diagnosed advanced ovarian cancer. N Engl J Med. 2018;379:2495-2505.
  2. González-Martín A, Pothuri B, Vergote I, et al. Niraparib in patients with newly diagnosed advanced ovarian cancer. N Engl J Med. 2019 Sep 28. [Epub ahead of print].
  3. Ray-Coquard IL, Pautier P, Pignata S, et al. Phase III PAOLA-1/ENGOT-ov25 trial: Olaparib plus bevacizumab (bev) as maintenance therapy in patients (pts) with newly diagnosed, advanced ovarian cancer (OC) treated withplatinum-based chemotherapy (PCh) plus bev. Ann Oncol. 2019;30 (Suppl 5): abstract LBA2_PR.
  4. Coleman RL, Fleming GF, Brady MF, et al. Veliparib with first-line chemotherapy and as maintenance therapy in ovarian cancer. N Engl J Med. 2019 Sep 28. [Epub ahead of print].

 Nguồn: https://www.medscape.com/viewarticle/919248

ungthubachmai.vn

 

 

CN. Vũ Bình Thư (Dịch)

Đơn vị Gen-Tế bào gốc, Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu

Bệnh viện Bạch Mai

 

MỤC ĐÍCH

Bộ gen của các khối u bị thiếu hụt enzyme sửa chữa bắt cặp sai (dMMR) có tính bất ổn định vi vệ tinh cao (MSI-H) và chứa hàng trăm đến hàng ngàn đột biến soma mã hóa các gen tân sinh tiềm năng. Do đó, các khối u như vậy có khả năng tạo ra đáp ứng miễn dịch, kích hoạt quá trình điều chỉnh các protein chốt kiểm soát miễn dịch. Pembrolizumab, một kháng thể đơn dòng ức chế thụ thể PD-1, có hoạt tính chống lại các bệnh ung thư do MSI-H/dMMR gây ra. Chúng tôi xin báo cáo dữ liệu từ nghiên cứu pha II KEYNOTE-158 về pembrolizumab ở những bệnh nhân ung thư không phải đại trực tràng giai đoạn tiến triển có MSI-H/dMMR, đã điều trị trước đó.

 

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

Bệnh nhân tham gia nghiên cứu là những người mắc ung thư không phải đại trực tràng giai đoạn tiến triển MSI-H/d-MMR, đã thất bại trong điều trị trước đó. Bệnh nhân được điều trị bằng pembrolizumab 200mg mỗi 3 tuần trong 2 năm hoặc cho đến khi bệnh tiến triển, không thể dung nạp được độc tính hoặc bệnh nhân rút khỏi nghiên cứu. Bệnh nhân được chụp X quang mỗi 9 tuần trong năm đầu điều trị và năm sau là mỗi 12 tuần. Điểm kết thúc nghiên cứu là tỷ lệ đáp ứng khách quan trên mỗi tiêu chí đánh giá tính chất đáp ứng điều trị của khối u đặc (RECIST) phiên bản 1.1, được đánh giá bởi trung tâm hình ảnh phóng xạ độc lập.

 

CÁC KẾT QUẢ

Trong số 233 bệnh nhân được nghiên cứu, phát hiện được 27 loại khối u, với ung thư nội mạc tử cung, dạ dày, ung thư đường mật và ung thư tuyến tụy là phổ biến nhất. Thời gian theo dõi trung bình là 13,4 tháng. Tỷ lệ đáp ứng khách quan là 34,3% (95% CI, 28,3% đến 40,8%). Trung vị thời gian sống không bệnh tiến triển là 4,1 tháng (95% CI, 2,4 đến 4,9 tháng) và trung vị của thời gian sốngthêm toàn bộ là 23,5 tháng (95% CI, từ 13,5 tháng đến chưa thống kê). Các tác dụng phụ liên quan đến điều trị xuất hiện trên 151 bệnh nhân (64,8%). Ba mươi bốn bệnh nhân (14,6%) có các tác dụng phụ liên quan đến điều trị  độ 3 đến 5. Có một bệnh nhân bị viêm phổi độ 5; không có tác dụng phụ gây tử vong liên quan đến điều trị.

 

Hoạt động ức chế khối u đối với từng loại ung thư

1

Ghi chú: Hiệu suất phân tích bao gồm toàn bộ bệnh nhân được điều trị ít nhất 1 liều pembrolizumab. Chỉ những bệnh nhân có đáp ứng mới được ghi nhận kết quả. Các đáp ứng được đánh giá theo tiêu chí RECIST phiên bản 1.1, được đánh giá bởi trung tâm hình ảnh phóng xạ độc lập.

2 

PHẦN KẾT LUẬN

Nghiên cứu của chúng tôi chứng minh lợi ích lâm sàng của liệu pháp kháng PD-1 sử dụng pembrolizumab trong số những bệnh nhân bị ung thư không phải đại trực tràng có MSI-H/dMMR không thể phẫu thuật được hoặc bệnh di căn đã được điều trị trước đây. Độc tính vẫn giữ nguyên so với những nghiên cứu trước đây về đơn trị liệu pembrolizumab.

 

Nguồn: Efficacy of Pembrolizumab in Patients With Noncolorectal High Microsatellite
Instability/Mismatch Repair–Deficient Cancer: Results From the Phase II KEYNOTE-158 Study
Báo: Journal of Clinical Oncology


ungthubachmai.vn

 

 

 

CN. Nguyễn Thị Thu Giang (lược dịch)

Đơn vị Gen – Tế bào gốc,

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai

 bladder

Liệu pháp miễn dịch với các thuốc ức chế PD-1 và PD-L1 đã trở thành tiêu chuẩn điều trị cho những bệnh nhân ung thư biểu mô đường niệu giai đoạn tiến xa đã tiến triển hoặc không đủ điều kiện để điều trị hóa trị phác đồ có cisplatin. Sự hiệu quả của các thuốc này trên những bệnh nhân di căn đã làm tiền đề cho nghiên cứu ở những giai đoạn sớm hơn của bệnh. Tiêu chuẩn điều trị hiện nay của ung thư bàng quang xâm lấn cơ (Muscle-invasive bladder cancer – MIBC) là hóa trị trên nền cisplatin, sau đó cắt bỏ toàn bộ bàng quang (Radical cystectomy – RC). Tuy nhiên, chỉ một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân được điều trị hóa trị tân bổ trợ và một nửa số bệnh nhân MIBC không đủ điều kiện hóa trị có cisplatin. Một nghiên cứu phase II nhãn mở, đơn nhóm (PURE-01) đã đánh giá hiệu quả của thuốc ức chế PD-1 pembrolizumab (200 mg mỗi 3 tuần trong 3 chu kì) khi được dùng như liệu pháp tân bổ trợ trước khi cắt bỏ toàn bộ bàng quang trên 50 bệnh nhân ung thư bàng quang xâm lấn cơ.

Tất cả các bệnh nhân đều được hóa trị tân bổ trợ pembrolizumab trước khi phẫu thuật cắt bỏ bàng quang. 21 bệnh nhân (42%) đáp ứng hoàn toàn (pT0), 6 bệnh nhân còn khối u (pTa, pTis, hoặc pT1), nghĩa là 27 (54%) bệnh nhân có đáp ứng đạt pT<2 và giảm giai đoạn xuống không xâm lấn cơ. Các phân tích chỉ điểm sinh học đã tìm thấy mối liên quan giữa biểu hiện PD-L1, mức độ đột biến khối u (tumor mutation burden - TMB) và biểu hiện gen với mức độ đáp ứng đạt pT0. Bệnh nhân có tỉ lệ dương tính kết hợp PD-L1 (PD-L1 combined positive score – CPS PD-L1) ≥10% có nhiều khả năng đạt được pT0 hơn so với bệnh nhân có CPS PD-L1<10% (54,3% so với 13,3%).TMB ≥15 đột biến/ Mb cũng liên quan đáng kể với việc tăng tỷ lệ pT0 (p=0,22). Bệnh nhân đạt pT0 có biểu hiện gen cao hơn liên quan đáng kể với tín hiệu gamma interferon, sự hiện diện kháng nguyên, sự biệt hóa tế bào T, các chemokine cùng các thụ thể, các thụ thể ức chế cùng các phối tử và IDO1.

Phản ứng có hại (adverse event – AE) thường gặp nhất (ở tất cả các mức độ) là rối loạn chức năng tuyến giáp (18%). AE độ 3 xảy ra ở 3 bệnh nhân (6%) trong đó có 1 bệnh nhân ngừng điều trị với pembrolizumab do tăng men gan độ 3. Các biến chứng sau phẫu thuật được như mong đợi dù có một số bệnh nhân bị các AE liên quan đến miễn dịch chậm, bao gồm sốt (6%), ngứa (6%) và khô miệng (4%).

Các nhà nghiên cứu kết luận rằng pembrolizumab là liệu pháp tân bổ trợ an toàn khi sử dụng trên bệnh nhân ung thư bàng quang xâm lấn cơ với tỷ lệ pT0 ấn tượng, đặc biệt trên những bệnh nhân PD-L1 dương tính và những bệnh nhân có tỉ lệ TMB ≥15 đột biến/Mb. Khi các nghiên cứu trong tương lai đánh giá pembrolizumab theo kiểu ngẫu nhiên được chứng minh, các tác giả đã tuyên bố rằng tân bổ trợ pembrolizumab nên được lựa chọn để điều trị cho những bệnh nhân không đủ điều kiện điều trị hóa trị phác đồ có cisplatin nhưng có biểu hiện PD-L1 hoặc TMB cao. 

Nguồn: Theo J Clin Oncol. 2018 Oct 20

Ungthubachmai.vn

CN. Lê Thị Bích Ngọc

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu - Bệnh viện Bạch Mai

Hiện nay theo hướng dẫn của Mạng lưới ung thư quốc gia Hoa Kì (NCCN), liệu pháp toàn thân tiêu chuẩn dùng để chăm sóc đố ivới bệnh nhân ung thư buồng trứng thể thanh dịch mức độ nặng (high-grade serousovarian cancer: HGSOC) mới được chẩn đoán sau khi thực hiện xét nghiệp BRCA là:

-     Với bệnh nhân có đột biến BRCA: sử dụng Carboplatin và Paclitaxel truyền tĩnh mạch trong 6 chu kỳ mỗi chu kỳ 3 tuần, có thể kết hợp với Olaparib:

+   Sử dụng Olaparib đường uống trong 2 năm hoặc cho tới khi bệnh tiến triển (đối với những bệnh nhân có đáp ứng hoàn toàn hoặc đáp ứng một phần);

+   Giám sát (nếu không phù hợp với Olaparib).

-     Với bệnh nhân không có đột biến BRCA: sử dụng Carboplatin và Paclitaxel truyền tĩnh mạch trong 6 chu kỳ mỗi chu kỳ 3 tuần, có thể kết hợp với Bevacizumab

+  Duy trì Bevacizumab tối đa 15 tháng hoặc cho tới khi bệnh tiến triển;

+  Giám sát (nếu không phù hợp với Bevacizumab).

Hiện có khá nhiều các nghiên cứu về vai tròcủa thuốc ức chế PARP trong ung thư buồng trứng tiến triển mới được chẩn đoán đã được thực hiện để tìm ra hướng điều trị mới cho căn bệnh này.

1. Nghiên cứu PRIMA của González-Martín A và cộng sự.

Nghiên cứu được thực hiện trên 733 bệnh nhân ung thư buồng trứng mới được chẩn đoán có nguy cơ tái phát cao sau khi đáp ứng với hóa trị liệu có Platium bước 1 sẽ được chia thành 2 nhóm và sử dụng Niraparib hoặc giả dược.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, đối với nhóm có thiếu hụt tái tổ hợp tương đồng (HomologousRecombination Deficiency: HDR), Niraparib làm giảm 57% nguy cơ tái phát hoặc tử vong, thời gian sống bệnh không tiến triển (PFS) trung bình ở nhóm Niraparib là 21,9 tháng so với 10,4 tháng ở nhóm dùng giả dược, cao hơn 11,5 tháng. Tỉ lệ bệnh nhân không có bệnh tiến triển hoặc tử vong ở nhóm dùng Niraparib cũng cao hơn ở nhóm dùng giả dược.

Ở nhóm dân số nói chung, Niraparib cũng làm giảm 38% nguy cơ tái phát hoặc tử vong, thời gian sống bệnh không tiến triển là 13,8 tháng, cao hơn 5,6 tháng so với nhóm dùng giả dược.

Ở các phân nhóm dấu ấn sinh học BRCA và thiếu hụt tái tổ hợp tương đồng cũng cho thấy thời gian sống bệnh không tiến triển trong tất cả các phân nhóm dấu ấn sinh học được phân tích bất kể trạng thái BRCA và thiếu hụt tái tổ hợp tương đồng đều có kết quả nghiêng về phía sử dụng Niraparib.

2. Nghiên cứu VELIA của Coleman và cộng sự.

Nghiên cứu được thực hiện trên 1.140 bệnh nhân ung thư buồng trứng thể thanh dịch giai đoạn III hoặc IV theo hệ thống FIGO, không có di căn não và chưa được điều trị liệu pháp toàn thân trước đó.Các bệnh nhân được chia vào 3 nhóm, nhóm 1 sử dụng Veliparib suốt liệu trình và 2 nhóm chứng là nhóm 2 chỉ sử dụng Veliparib ở giai đoạn đầu, giai đoạn sau dùng giả dược, nhóm 3 chỉ sử dụng giả dược.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở quần thể có đột biến BRCA, thời gian sống bệnh không tiến triển ở nhóm 1 sử dụng Veliparib suốt liệu trình là 34,7 tháng so với 22 tháng ở nhóm chứng, cao hơn 12,7 tháng.Ở quần thể có thiếu hụt tái tổ hợp tương đồng cũng cho thấy sử dụng Veliparib suốt liệu trình có thời gian sống bệnh không tiến triển cao hơn 11,4 tháng so với nhóm chứng.

3. Nghiên cứu PAOLA-1 của Ray-Coquard I và cộng sự.

Bệnh nhân mới được chẩn đoán ung thư phúc mạc nguyên phát, ung thư ống dẫn trứng, ung thư nội mạc tử cung, ung thư buồng trứng thể thanh dịch giai đoạn III-IV theo hệ thống FIGO sau khi được điều trị bước đầu bằng phẫu thuật, hóa trị dựa trên platinum-taxane và trên 3 chu kì bevacizumab sẽ được chia thành 2 nhóm. Nhóm 1 được điều trị tiếp bằng Olaparib kết hợp với Bevacizumab. Nhóm 2 được điều trị bằng giả dược kết hợp với Bevacizumab.

Kết quả cho thấy, đối với quần thể có thiếu hụt tái tổ hợp tương đồng dương tính, thời gian sống bệnh không tiến triển của nhóm 1 điều trị bằng Olaparib kết hợp với Bevacizumab cao hơn hẳn nhóm 2 chỉ sử dụng giả dược kết hợp với Bevacizumab. Tuy nhiên, ở quần thể có thiếu hụt tái tổ hợp tương đồng âm tính, không có sự khác biệt về thời gian sống bệnh không tiến triển giữa 2 nhóm.

Như vậy, việc điều trị và quản lý bệnh nhân ung thư buồng trứng thể thanh dịch mức độ nặng đang có những thay đổi nhanh chóng. Các chất ức chế PARP có khả năng dung nạp chấp nhận được và có hiệu quả trong điều trị bước đầu, bất kể trạng thái BRCA cũng như thiếu hụt tái tổ hợp tương đồng , như đã được chứng minh bằng nhiều thử nghiệm giai đoạn 3. Tuy nhiên, việc xét nghiệm thiếu hụt tái tổ hợp tương đồng sẽ có ích trong việc lựa chọn bệnh nhân, những đối tượng đáp ứng tốt nhất với các thuốc ức chế PARP trong lựa chọn điều trị bước đầu.

 

Bài viết được lược dịch từ bài “The Evolving Role of PARP Inhibitors in Newly DiagnosedAdvanced Ovarian Cancer” của Bradley J. Monk, MD được đăng trên Medscape Education ngày 11 tháng 12 năm 2019.


CN. Võ Thị Thúy Quỳnh (tổng hợp và dịch)

ĐV Gen – Tế bào gốc, Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai

Ghép tế bào gốc trung mô giúp giảm tích tụ Amyloid-β thông qua cải thiện chức năng của vi tế bào thần kinh đệm và giảm tress oxi hóa

Liệu pháp tế bào T mang thụ thể kháng nguyên dạng khảm: Thách thức khi chỉ định rộng hơn

Vai trò của xét nghiệm đa hình gen FCGR trong điều trị ung thư

Ngoài các phương pháp điều trị ung thư truyền thống thì việc phát triển thêm các phương pháp điều trị bổ trợ khác đã giúp nhiều bệnh nhân ung thư có cơ hội điều trị bệnh.

Các kỹ thuật chẩn đoán và điều trị ung thư ngày càng có nhiều tiến bộ, đến nay chúng ta áp dụng được điều trị cá thể hóa trên từng bệnh nhân dựa vào đặc tính đột biến gen của họ.

Dấu ấn trên tế bào lympho T giúp dự đoán đáp ứng điều trị bệnh nhân ung thư bạch cầu mạn bằng công nghệ tế bào CAR-T

Ứng dụng tấm biểu mô từ tế bào gốc mô mỡ trong điều trị loét do đái tháo đường.

Phẫu thuật cắt bỏ hai tuyến vú có hiệu quả với bệnh nhân mang đột biến BRCA1, nhưng không hiệu quả ở bệnh nhân mang đột biến BRCA2

Tế bào gốc trong cơ thể làm việc như một hệ thống sửa chữa, tái tạo bằng cách phân chia thành các tế bào chuyên biệt để bổ sung, thay thế các tế bào già yếu, giảm chức năng hay mất chức năng.

Tầm quan trọng của xét nghiệm đột biến gen RAS trong điều trị ung thư đại trực tràng

Page 1 of 3

Tem dan Don vi Gen tri lieu 1

logo vinmec

Tiêu điểm

Hỗ trợ  

Joomla Templates and Joomla Extensions by ZooTemplate.Com
Hotline: 1900575758 phím 2

Clip

Đối tác chiến lược

chung cư imperia garden

Quảng cáo

Banner

Hình ảnh tiêu biểu

Đối tác chiến lược

chung cư imperia garden

Thống kê

Members : 7634
Content : 1268
Web Links : 3
Content View Hits : 358415