Đào tạo và nghiên cứu

Tuesday, 05 May 2020 09:02

Hướng dẫn gửi xét nghiệm

CN. Nguyễn Thị Mai Lan - Đơn vị Gen - Tế bào gốc,

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai.

 

1. Xét nghiệm gen là gì?

            Hiện nay, các xét nghiệm về gen đang ngày càng phổ biến trong y học nhằm phục vụ công tác sàng lọc, chẩn đoán và điều trị bệnh một cách nhanh chóng và hiệu quả. Xét nghiệm gen là quá trình phân tích các gen gây ra các bệnh về di truyền, các đột biến gen hay các nguy cơ phát triển rối loạn gen trong di truyền,... Mỗi xét nghiệm gen lại có một giá trị, một ý nghĩa khác nhau đại diện cho các bệnh lý khác nhau.

 

2. Các xét nghiệm đang làm tại Đơn vị Gen - Tế bào gốc

            Tại Đơn vị Gen - Tế bào gốc, Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai đang thực hiện thường quy một số xét nghiệm gen như sau:

-      Xét nghiệm đột biến gen EGFR trong bệnh ung thư phổi.

-      Xét nghiệm đột biến gen KRAS, NRAS trong bệnh ung thư đại trực tràng.

-      Xét nghiệm đột biến gen BRAF trong bệnh ung thư đại trực tràng hoặc ung thư tuyến giáp.

-      Xét nghiệm sàng lọc nguy cơ huyết khối trong các bệnh lý tim mạch liên quan đến tình trạng tăng đông và huyết khối.

-      Xét nghiệm sàng lọc nguy cơ xơ vữa động mạch trong các bệnh lý liên quan đến bệnh lý tim mạch.

-      Phân tích tính đa hình gen VKORC1 và CYP2C9 liên quan đến việc sử dụng thuốc chống đông Wafarin.

-      Xét nghiệm HLA-B27 trong bệnh Viêm cột sống dính khớp, Viêm khớp phản ứng, Viêm khớp dạng thấp thiếu niên, Viêm màng bồ đào.

-      Định lượng AFP, AFP-L3, PIVKA-II trong các bệnh về gan nhằm phát hiện sớm, chẩn đoán sớm và tiên lượng bệnh ung thư gan.

 

3. Mẫu bệnh phẩm xét nghiệm

            Tùy vào loại xét nghiệm mà các mẫu bệnh phẩm có thể khác nhau. Hiện nay, Đơn vị Gen - Tế bào gốc đang thực hiện các xét nghiệm với hai mẫu bệnh phẩm là mẫu máu hoặc mẫu mô (sinh thiết hoặc phẫu thuật) của người bệnh.

            Các xét nghiệm thực hiện với mẫu là 2ml máu đựng trong ống có chất chống đông EDTA bao gồm:

-      Xét nghiệm sàng lọc nguy cơ huyết khối.

-      Xét nghiệm sàng lọc nguy cơ xơ vữa động mạch.

-      Phân tích tính đa hình gen VKORC1 và CYP2C9.

-      Xét nghiệm HLA-B27.

            Các xét nghiệm thực hiện với mẫu là 2ml máu đựng trong ống không có chất chống đông bao gồm: Định lượng AFP, AFP-L3, PIVKA-II.

            Các xét nghiệm thực hiện là mẫu mô của người bệnh bao gồm:

-      Xét nghiệm đột biến gen EGFR.

-      Xét nghiệm đột biến gen KRAS, NRAS.

-      Xét nghiệm đột biến gen BRAF.

 

4. Cách gửi mẫu bệnh phẩm

4.1. Người bệnh gửi mẫu trực tiếp tại Đơn vị Gen - Tế bào gốc

* Trường hợp bệnh phẩm là mẫu máu:

-      Đối với người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế (có giấy chuyển viện), người bệnh đăng ký làm xét nghiệm tại phòng 302 Khoa khám bệnh để được in hóa đơn xét nghiệm hưởng Bảo hiểm y tế. Người bệnh lấy máu tại phòng 108 Khoa khám bệnh.

-      Đối với người bệnh làm xét nghiệm dịch vụ, người bệnh đóng tiền tại phòng 100B trước cửa Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu (khu nhà 3 tầng). Người bệnh lấy máu tại phòng 108 thuộc Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu (khu nhà 3 tầng).

* Trường hợp bệnh phẩm là mẫu mô, người bệnh hoặc người nhà người bệnh cần chuẩn bị:

-      Mẫu bệnh phẩm.

-      Kết quả sinh thiết (hoặc kết quả giải phẫu bệnh) có mã số bệnh phẩm.

-      Hóa đơn xét nghiệm:

+      Đối với người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế (có giấy chuyển viện), người bệnh đăng ký làm xét nghiệm tại phòng 302 Khoa khám bệnh để được in hóa đơn xét nghiệm hưởng Bảo hiểm y tế.

+      Đối với người bệnh làm xét nghiệm dịch vụ, người bệnh đóng tiền tại phòng 100B trước cửa Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu (khu nhà 3 tầng).

            Sau đó người bệnh hoặc người nhà người bệnh mang tất cả giấy tờ và bệnh phẩm ở trên gửi trực tiếp đến phòng 1244, tầng 12, khu nhà Q.

4.2. Các khoa trong Bệnh viện gửi xét nghiệm

* Trường hợp bệnh phẩm là mẫu máu: các khoa gửi hóa đơn cùng với mẫu máu được lấy trong vòng 4 tiếng và gửi đến phòng 1244, tầng 12, khu nhà Q.

* Trường hợp bệnh phẩm là mẫu mô: các khoa liên hệ mượn mẫu bệnh phẩm tại nơi người bệnh làm sinh thiết hoặc phẫu thuật và in hóa đơn xét nghiệm của người bệnh rồi gửi đến phòng 1244, tầng 12, khu nhà Q.

4.3. Bệnh viện khác gửi mẫu xét nghiệm

* Trường hợp bệnh phẩm là mẫu máu: các bệnh viện gửi mẫu máu được lấy trong vòng 4 tiếng kèm theo hóa đơn xét nghiệm (được đóng tại phòng 100B trước cửa Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu) đến phòng 1244, tầng 12, khu nhà Q.

* Trường hợp bệnh phẩm là mẫu mô, các bệnh viện cần chuẩn bị:

-      Mẫu bệnh phẩm

-      Kết quả sinh thiết có mã số bệnh phẩm

-      Hóa đơn xét nghiệm

            Và gửi đến phòng 1244, tầng 12, khu nhà Q.

            Trong quá trình gửi mẫu xét nghiệm nếu có khó khăn, vướng mắc, người bệnh, người nhà hoặc nhân viên y tế có thể liên hệ số điện thoại: 0243.215.1341 - 0983.229.196 - 0378.416.982 để được hỗ trợ kịp thời.

5. Trả lại hoặc từ chối nhận bệnh phẩm

* Đối với bệnh phẩm là mẫu mô:

-      Bệnh phẩm bị biến dạng, khối nến không còn nguyên vẹn, bị chảy… do bảo quản không đúng cách.

-      Mã số trên bệnh phẩm và mã số trên kết quả sinh thiết không trùng khớp.

-      Kết quả sinh thiết không có tế bào ung thư.

* Đối với bệnh phẩm là mẫu máu

-      Dụng cụ chứa bệnh phẩm (Các ống xét nghiệm) không đúng quy định, vỡ hoặc không có nắp.

-      Thông tin trên phiếu chỉ định và bệnh phẩm không tương ứng.

-      Số lượng bệnh phẩm không đủ để làm xét nghiệm.

-      Máu bị vỡ hồng cầu, bị đông do không đảm bảo quy định về lấy máu.

-      Không đảm bảo thời gian vận chuyển mẫu sau khi lấy máu.

 

ungthubachmai.vn

KS. Mai Thái Học, GS.TS. Mai Trọng Khoa

(Dịch và tổng hợp)

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai

 

ảnh 3524

Hóa xạ trị đồng thời là phương pháp điều trị chuẩn cho nhiều bệnh nhân ung thư giai đoạn sớm, chưa di căn. Phương pháp này đạt hiệu quả cao trong việc giảm kích thước khối u và có thể chữa khỏi ở một số trường hợp, tuy nhiên phương pháp này cũng gây ra một số tác dụng phụ nghiêm trọng có thể ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Xạ trị bằng chùm tia proton được đánh giá là an toàn và hiệu quả hơn khi so sánh với phương pháp xạ trị truyền thống. Trong một nghiên cứu hồi cứu được công bố gần đây trên tạp chí JAMA Oncology, các nhà nghiên cứu đã so sánh sự an toàn và hiệu quả của xạ trị bằng chùm tia proton với xạ trị truyền thống ở 1483 bệnh nhân ung thư tiến triển tại chỗ, chưa di căn, điều trị hóa xạ trị đồng thời với mục đích triệt căn.

90 ngày sau điều trị, bệnh nhân được xạ trị bằng chùm proton có tỷ lệ tác dụng phụ độ 3 trở lên thấp hơn đáng kể (11,5% so với 27,6%; HR=0,31; p=0,002) so với bệnh nhân xạ trị truyền thống. Độc tính các độ thấp hơn cũng giảm ở những bệnh nhân xạ trị bằng chùm proton (74,2% so với 84,8%; HR=0,78; p=0,06). Hơn nữa, sự giảm toàn trạng ở bệnh nhân được xạ trị bằng chùm proton thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với bệnh nhân được điều trị bằng xạ trị truyền thống (HR=0,51; p<0,001). Không có sự khác biệt về thời gian sống thêm không bệnh (HR=0,84; P=0,55) và thời gian sống thêm toàn bộ giữa hai nhóm điều trị (HR=0,73; p=0,34).

Các tác giả kết luận rằng xạ trị bằng chùm proton đồng thời với hóa trị giúp giảm tỷ lệ tác dụng phụ cấp tính so với hóa xạ trị truyền thống, mà không làm thay đổi hiệu quả điều trị, bao gồm cả thời giam sống thêm toàn bộ. Mặc dù các kết quả này cần kiểm chứng lại bằng một nghiên cứu tiến cứu ngẫu nhiên, các tác giả cho rằng xạ trị với proton có thể là phương pháp điều trị ưu tiên cho bệnh nhân ung thư tiến triển tại chỗ, chưa di căn.

 

Tài liệu tham khảo

Roxanne Nelson, (2020), Proton Beam Radiotherapy Safer Than Traditional Radiotherapy, Featured Education.

Link:

https://www.primeoncology.org/primelines/proton-beam-radiotherapy/?utm_campaign=PrimeLines&;utm_source=hs_email&utm_medium=email&utm_content=82721601&_hsenc=p2ANqtz-8s5uN_jXdcG99dLoCc0l1UB30B3BbuKZILhW2SH5CauBqE2z1IXNs98OOXl6_yHZA5jxn7nhk7Nm_bvf92dwZWq87GMw&_hsmi=82721601

ungthubachmai.vn

 CN. Vũ Thị Minh Trang (tổng hợp)

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai.

 

Để bảo vệ tốt nhất cho bản thân và cho cộng đồng trong công tác phòng chống chống dịch bệnh SARS-CoV-2, cần thực hiện tốt 5 điều sau đây:

1. Vệ sinh cá nhân đúng cách

Tăng cường vệ sinh cá nhân đúng cách cũng chính là một trong những cách đơn giản giúp mọi người phòng tránh dịch virus. 

Nên súc miệng bằng các dung dịch chuyên dụng hoặc pha nước muối ít nhất 3 lần/ngày: sau khi ngủ dậy, trước khi đi ngủ, sau khi đi làm về hoặc sau khi đến những chỗ đông người.

1 

Hạn chế sờ tay lên mặt và thường xuyên rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn chứa 75% nồng độ cồn.

 

2. Đeo khẩu trang đúng cách

Theo các chuyên gia y tế, khẩu trang y tế thông thường đủ khả năng phòng ngừa virus corona, chỉ cần đảm bảo các nguyên tắc: thứ nhất là khẩu trang đạt chuẩn, thứ hai là đeo khẩu trang đúng cách.

2 

Nhớ rửa tay với xà phòng và nước sạch ngay sau khi bỏ khẩu trang.

 

3. Hạn chế tiếp xúc

Nên hạn chế đi đến các nơi tập trung đông người. Không đi du lịch đến vùng có dịch bệnh. Trong trường hợp bắt buộc phải đến những nơi đông người hãy tự bảo vệ bản thân bằng cách mặc quần áo kín, đeo khẩu trang, rửa tay với dung dịch sát khuẩn hoặc xà phòng, hạn chế tiếp xúc và nói chuyện với người khác, nên giữ khoảng cách 2m với người khác.

 3

 

4. Tăng cường sức khỏe

Cần tăng cường sức khỏe và hệ miễn dịch để nâng cao khả năng đề kháng bệnh tật và dịch viêm phổi cấp. Cần chú ý giữ ấm cơ thể, nghỉ ngơi điều độ, sinh hoạt hợp lý, duy trì luyện tập thể dục, thể thao mỗi ngày để tăng cường sức khỏe.

Cần ăn uống đủ chất, đảm bảo dinh dưỡng hợp lý: Ăn cân đối giữa các nhóm dưỡng chất như tinh bột, chất đạm, chất béo, vitamin và khoáng chất; Bổ sung hợp lý trong chế độ ăn có nhiều loại rau xanh, củ quả, hoa quả, trái cây…; Uống đủ nước.

 4

 

5. Tham gia Khai báo Y tế toàn dân

Việc tham gia Khai báo Y tế toàn dân giúp các cơ quan chức năng thu thập dữ liệu sức khỏe người dân, qua đó biết được các trường hợp cần chú ý để bảo đảm hỗ trợ y tế nhanh nhất và hiệu quả nhất có thể. 

Truy cập cổng khai báo điện tử: https://suckhoetoandan.vn/ hoặc khaibaoyte.vn để điền các thông tin.

Cần có ý thức để có thể bảo vệ sức khỏe cho chính bản thân cũng như góp phần phòng chống sự lây lan của dịch Covid-19 trong cộng đồng.

 

Nguồn tài liệu tham khảo

https://ncov.moh.gov.vn/

https:http://tapchibaohiemxahoi.gov.vn/tin-tuc/who-ve-sinh-tay-dung-cach-lam-giam-30-vi-khuan-gay-benh-22104//vinid.net/blog/mua-dich-covid-19-luon-ghi-nho-nhung-dieu-nay-ban-nhe/

https://aeonmall-long-bien.com.vn/cach-su-dung-khau-trang-dung-cach-phong-covid-19-theo-huong-dan-cua-bo-y-te/

https://kenh14.vn/huong-dan-chi-tiet-cach-thuc-hien-khai-bao-thong-tin-y-te-dien-tu-20200310140511439.chn

 

ungthubachmai.vn

GS. Mai Trọng Khoa, PGS Phạm Cẩm Phương,

BSNT. Hà Văn Trí, BSNT Phạm Đình Phúc, 

BSNT. Trần Khắc Chiến, BSNT Trương Thu Hiền.

 

1. Một vài nét về thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR – Epidermal growth factor receptor) 

Thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR – Epidermal growth factor receptor) là một thụ thể trên bề mặt tế bào có vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của nhiều loại ung thư khác nhau. Chính vì vậy, đã có nhiều thuốc đích kháng EGFR ra đời. Trong đó có 2 nhóm chính là các kháng thể đơn dòng như Cetuximab, Panitumumab, Nimotuzumab… và các thuốc ức chế phân tử nhỏ như Erlotinib, Gefitinib, Afatinib, Osimertinib…
Các thuốc này tỏ ra có hiệu quả đối với các loại ung thư phụ thuộc EGFR, tuy nhiên hiệu quả của từng loại thuốc trên từng loại ung thư là khác nhau. Vậy điều gì đã gây ra sự khác biệt đó? Và EGFR ở các loại ung thư khác nhau có giống nhau hay không?
Bộ gen người có khoảng 20.000 gen. Các tế bào soma trong cơ thể bình thường có thông tin di truyền trong nhân hoàn toàn giống nhau vì cùng xuất phát từ một tế bào hợp tử ban đầu. Chúng khác nhau về cấu trúc và chức năng do biểu hiện các gen khác nhau.
Gen EGFR là một gen nằm trên nhánh ngắn của nhiễm sắc thể số 7 mã hoá cho thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR). Thụ thể này được biểu lộ trên bề mặt của nhiều loại tế bào biểu mô và có vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của nhiều loại ung thư. EGFR có mặt trên các tế bào bình thường của cơ thể có cấu trúc giống nhau vì cùng được mã hoá bởi gen giống nhau. Tuy nhiên, ở các tế bào ung thư có sự biến đổi của các EGFR dẫn đến sự khác nhau về vai trò của các thuốc đích kháng EGFR.
1.1. Cấu trúc và chức năng của EGFR.
EGFR là thành viên của họ thụ thể ErbB (Erythroblastic B), bao gồm 4 thành viên: EGFR (ErbB-1), HER2/neu (ErbB-2), HER3 (ErbB-3) và HER4 (ErbB-4). Protein EGFR gồm 1210 axit amin, có cấu trúc gồm 3 vùng: vùng ngoại bào chứa miền tương tác với yếu tố tăng trưởng, vùng xuyên màng và vùng nội bào chứa miền kinase có thể phosphoryl hóa tyrosine của protein (nên được gọi là thụ thể tyrosine kinase). Khi yếu tố tăng trưởng biểu mô liên kết vào thụ thể, hai phân tử EGFR kết hợp với nhau (dimer hóa), từ đó tự phosphoryl hóa vùng tyrosine kinase, giúp EGFR kết hợp được với các phân tử tín hiệu ở giai đoạn sau của con đường tín hiệu (Hình 1). Tín hiệu từ EGFR có thể được truyền qua con đường Ras/Raf/MEK/ERK hoặc PI3K/AKT/mTOR vào nhân để điều khiển tế bào tăng trưởng, biệt hóa, phân chia, tăng sinh mạch máu, tránh sự tự chết theo chương trình (apoptosis)…

1

Hình 1: Mô hình cấu trúc và hoạt động của thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu mô.

(A) Thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu mô (EGFR) gồm ba vùng: vùng ngoại bào chứa miền tương tác với yếu tố tăng trưởng, vùng xuyên màng tế bào, và vùng nội bào chứa miền Tyrosine Kinase. (B) Hoạt động của EGFR: khi yếu tố tăng trưởng biểu mô liên kết vào thụ thể, hai phân tử EGFR kết hợp với nhau (Dimer hóa), từ đó tự Phosphoryl hóa vùng Tyrosine Kinase giúp EGFR kết hợp được với các phân tử tín hiệu ở giai đoạn sau của con đường tín hiệu.

1.2. Các dạng biến đổi của EGFR trong ung thư.

Trong nhiều bệnh ung thư, các con đường tín hiệu phụ thuộc EGFR thường được kích hoạt liên tục dẫn đến tế bào phân chia mất kiểm soát. Hai cơ chế chính dẫn đến hiện tượng này bao gồm biểu hiện quá mức (overexpression) protein hoặc đột biến gen EGFR.
Biểu hiện quá mức protein EGFR
Sự biểu hiện quá mức EGFR (sự tăng lên về số lượng của EGFR trên bề mặt tế bào mà cấu trúc của nó không bị biến đổi) được phát hiện trong nhiều bệnh ung thư như ung thư phổi không tế bào nhỏ (40-80% số trường hợp), u nguyên bào thần kinh đệm (50%), ung thư biểu mô vùng đầu cổ (80-100%). Nguyên nhân của hiện tượng này do khuếch đại gen EGFR hoặc protein được tổng hợp liên tục, từ đó số lượng thụ thể trên bề mặt tế bào tăng gấp nhiều lần so với bình thường, liên tục kích hoạt các con đường tín hiệu phụ thuộc EGFR giúp tế bào phân chia mất kiểm soát, dẫn đến ung thư.
Đột biến gen EGFR
Gen EGFR ở người nằm ở vị trí 7p12, gồm 30 exon, là một trong những gen dễ bị đột biến nhất trong các loại ung thư.
Vị trí đột biến thường xảy ra nhất là exon 18-21 (đoạn mã hóa miền Tyrosine Kinase của protein). Phân tử EGFR sinh ra trong trường hợp này có miền Tyrosine Kinase bị biến đổi, có khả năng tự Phosphoryl hóa để phát ra tín hiệu nội bào, do đó các con đường tín hiệu phụ thuộc EGFR (chủ yếu là con đường Ras/Raf/MEK/ERK) được kích hoạt liên tục mà không cần sự có mặt của yếu tố tăng trưởng, làm tế bào phân chia mất kiểm soát gây nên ung thư. Đột biến trên exon 18-21 gen EGFR gặp ở nhiều loại ung thư như ung thư phổi không tế bào nhỏ (10-40%), đại trực tràng, vú, dạ dày,… Trong ung thư biểu mô tế bào vảy của phổi, u nguyên bào thần kinh đệm, ung thư vú, buồng trứng, tuyến tiền liệt,… còn phát hiện các trường hợp đột biến gen EGFR ở exon 2-7, tiêu biểu nhất là mất toàn bộ đoạn exon 2-7 (đột biến EGFRvIII). Dạng đột biến này làm vùng ngoại bào của thụ thể không liên kết được với yếu tố tăng trưởng, tuy nhiên vùng Tyrosine Kinase vẫn được kích hoạt (cơ chế của hiện tượng này còn chưa được hiểu rõ), từ đó kích thích con đường PI3K/AKT/mTOR, làm tế bào hoạt động bất thường dẫn đến ung thư. Hiện nay ý nghĩa và tỷ lệ dạng đột biến này vẫn chưa được xác định rõ ràng.

2

Hình 2: Các dạng đột biến EGFR.
(A) Đột biến trên exon 18-21 khiến miền Tyrosine Kinase có khả năng tự hoạt hóa và phát ra tín hiệu nội bào; (B) Đột biến trên exon 2-7 làm vùng ngoại bào mất khả năng liên kết với yếu tố tăng trưởng.

2. Điều trị ung thư bằng các thuốc hướng đích.

2.1. Các thuốc điều trị đích EGFR
Các thuốc điều trị đích EGFR gồm 2 nhóm: kháng thể đơn dòng kháng EGFR và phân tử nhỏ ức chế vùng Tyrosine Kinase (Tyrosine Kinase Inhibitor – TKI) của EGFR.
Các kháng thể đơn dòng kháng EGFR
Các kháng thể đơn dòng kháng EGFR có khả năng liên kết chặt chẽ với thụ thể, khiến yếu tố tăng trưởng không tiếp cận được với thụ thể (Hình 3A).
Các thuốc này chỉ có hiệu quả trong trường hợp các con đường tín hiệu nội bào liên quan đến cơ chế bệnh sinh của ung thư phải phụ thuộc hoàn toàn vào các tín hiệu kích thích được tiếp nhận từ vùng ngoại bào của thụ thể.
Vì vậy, những thuốc này được chỉ định trong trường hợp có sự biểu hiện quá mức EGFR trên bề mặt tế bào. Một số thuốc thuộc nhóm này như Cetuximab (điều trị ung thư đại trực tràng, ung thư vùng đầu – cổ), Panitumumab (ung thư đại trực tràng), Nimotuzumab (ung thư vùng đầu – cổ, u nguyên bào thần kinh đệm, ung thư tụy).

3

Hình 3: Cơ chế kháng EGFR của kháng thể đơn dòng.

(A) Các kháng thể đơn dòng liên kết chặt chẽ với EGFR, khiến yếu tố tăng trưởng không liên kết được với thụ thể, từ đó ức chế các con đường tín hiệu phụ thuộc EGFR; (B)

Tuy nhiên trong trường hợp KRAS bị đột biến, nó có khả năng tự phát ra tín hiệu nội bào để kích hoạt trở lại các con đường tín hiệu mà không phụ thuộc tín hiệu từ EGFR.
Đối với ung thư phổi:
- Trường hợp có đột biến EGFR thì vùng Tyrosine Kinase của thụ thể có khả năng tự Phosphoryl hoá và kích hoạt con đường tín hiệu tiếp theo mà không phụ thuộc vào các kích thích từ ngoại bào. Vì vậy, các thuốc này không có tác dụng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư.
- Trường hợp có biểu lộ quá mức EGFR mà không có đột biến:
Có nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để xác định vai trò của các kháng thể đơn dòng như Cetuximab, Necitumumab trong các trường hợp ung thư phổi có biểu lộ quá mức EGFR như: thử nghiệm lớn nhất FLEX trên 1.313 bệnh nhân hay thử nghiệm SWOG S0819 đã cho thấy sự cải thiện về tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR – Objective Response Rate), thời gian sống thêm bệnh không tiến triển (PFS – Progression Free Survival) và thời gian sống còn toàn bộ (OS – Overall Survival). Tuy nhiên, ở các thử nghiệm này vẫn chưa đủ các cơ sở dữ liệu về tính an toàn và hiệu quả để khuyến cáo sử dụng các kháng thể đơn dòng trong nhóm ung thư phổi không tế bào nhỏ có biểu hiện quá mức EGFR. Vì vậy, các nghiên cứu để xác định vai trò của các kháng thể đơn dòng trong nhóm bệnh nhân này vẫn đang được khuyến khích tiến hành để mở ra khả năng có thể sử dụng phối hợp các thuốc này trong nhóm bệnh nhân nêu trên.
Đối với ung thư đại trực tràng:
Các kháng thể đơn dòng chỉ được khuyến cáo sử dụng khi không có đột biến của họ gen RAS. Bởi vì khi có sự đột biến của họ gen này (KRAS, NRAS, HRAS) thì chúng sẽ tự kích hoạt con đường dẫn truyền tín hiệu Ras/Raf/MEK/ERK mà không phụ thuộc vào tín hiệu kích thích từ vùng ngoại bào. Chính vì vậy, đối với ung thư trực tràng và đại tràng trái giai đoạn tiến xa, trước khi điều trị phải xét nghiệm đột biến gen RAS.
2.2. Các thuốc ức chế phân tử nhỏ
Các thuốc TKI cạnh tranh với ATP về vị trí liên kết trên phân tử EGFR (Hình 2A), do đó vùng Tyrosine Kinase không có nguyên liệu Phosphate để thực hiện quá trình tự Phosphoryl hóa và phát tín hiệu nội bào. Hiệu quả điều trị bằng các thuốc TKI có liên quan đến tình trạng đột biến trên exon 18-21 gen EGFR: Gefitinib (điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ), Erlotinib (ung thư phổi không tế bào nhỏ, ung thư tụy) cần có đột biến gen trên exon 18, 19 và 21, Afatinib (ung thư phổi không tế bào nhỏ) có hiệu quả cao hơn trên bệnh nhân có đột biến gen, Osimertinib (ung thư phổi không tế bào nhỏ) là thuốc hướng đích có hiệu quả cả trong trường hợp có đột biến kháng thuốc EGFR T790M.
Đối với trường hợp ung thư phổi không tế bào nhỏ không có đột biến ở exon 18 – 21 thì các thuốc TKI sẽ có hiệu quả kém hơn. Một số ca lâm sàng đã được báo cáo cho thấy TKIs vẫn có tác dụng trên các bệnh nhân này. Tuy nhiên chưa đủ dữ kiện để khuyến cáo sử dụng rộng rãi.
Dưới đây là khuyến cáo của NCCN 2020 về việc sử dụng các thuốc điều trị đích kháng EGFR trong một số loại ung thư:

4

Hình 4: Vai trò của TKIs trong điều trị bước 1 ung thư phổi không tế bào nhỏ có đột biến EGFR (+) giai đoạn tiến triển, di căn.

5

Hình 5: Vai trò của kháng thể đơn dòng trong điều trị ung thư đại tràng giai đoạn tiến triển, di căn.

6

Hình 6: Vai trò của kháng thể đơn dòng trong điều trị ung thư trực tràng giai đoạn tiến triển, di căn.

7

Hình 7: Vai trò của TKIs trong điều trị ung thư đại tràng giai đoạn tiến triển, di căn.

8

Hình 8: Vai trò của kháng thể đơn dòng trong điều trị ung thư vùng đầu cổ giai đoạn tiến triển, di căn.

Ungthubachmai.vn

BS. Lê Quang Hiển (dịch)
Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu - Bệnh viện Bạch Mai

 

Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá hiệu quả điều trị của 223Ra đối với các bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt di căn xương bằng18F-fluoride PET/CT, 18FDG PET/CT, xạ hình xương /SPECT.

Các tác giả đã tiến hành nghiên cứu hồi cứu trên 10 bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến di căn xương. Các bệnh nhân này được điều trị bằng 223Ra với liều 55kBq/kg, tiêm tĩnh mạch 6 lần mỗi 4 tuần. Trước khi bắt đầu điều trị 223Ra và sau lần điều trị thứ 6, các bệnh nhân đều được đánh giá bằng 18F-fluoride PET/CT, 18FDG PET/CT và xạ hình xương/SPECT. Kỹ thuật PET/CT 18F-fluoride và 18FDG PET/CT được thực hiện 60 phút sau khi tiêm tĩnh mạch 2,1MBq/kg 18F-fluoride hoặc 3,7MBq/kg 18FDG bằng máy PET/CT (máy Biograph 16 hoặc Biograph Horizon của hãng Siemens). Kỹ thuật xạ hình xương/SPECT được thực hiện 3 giờ sau khi tiêm tĩnh mạch 740MBq 99mTc-MDP hoặc 99mTc-HMDP bằng máy xạ hình (máy Symbia T của hãng Siemens). Vùng quan tâm (ROI) được vẽ tại các khu vực di căn xương và giá trị hấp thu chuẩn tối đa (SUVmax) được đo lại trong các vùng ROI đó. Giá trị PSA được so sánh trước và sau trị điều trị bằng 223Ra.

Kết quả của nghiên cứu cho thấy 223Ra làm cải thiện tình trạng di căn xương và giảm SUVmax ở 8 bệnh nhân. 18F-fluoride PET/CT giúp phát hiện di căn xương tốt hơn so với xạ hình xương/SPECT. Tuy nhiên, 18FDG PET/CT nhạy hơn hai kỹ thuật trên trong việc phát hiện di căn xương. Cũng trong nghiên cứu này, nồng độ PSA đã tăng lên ở 7 bệnh nhân sau khi điều trị bằng 223Ra.

Như vậy, 223Ra có hiệu quả làm giảm tình trạng di căn xương ở 8 trong số 10 bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến di căn xương (được khẳng định bằng 18F-fluoride PET/CT, 18FDG PET/CT và xạ hình xương/SPECT), mặc dù nồng độ PSA đã tăng trong 7 bệnh nhân sau khi điều trị bằng 223Ra.

 


Nguồn: Evaluation of 223Ra therapy on bone metastases of prostate cancer by 18F-fluoride PET/CT, 18FDG PET/CT and bonescintigraphy/SPECT.

 

Tác giả: Katsuhiko Kato, TetsuroOdagawa, Naotoshi Fujita, Yoshinori Tsutsumi, Shinji Abe, Seiichi Yamamoto, Shinji Naganawa, Nagoya University Graduate School of Medicine Nagoya Japan.

http://jnm.snmjournals.org/content/60/supplement_1/534.abstract

ungthubachmai.vn

  TS.BS. Nguyễn Huy Bình (dịch)

Đơn vị gen và Tế bào gốc

Trung tâm YHHN&UB, Bệnh viện Bạch Mai.

 

Đặt vấn đề

Tế bào gốc trung mô có khả năng định hướng tới khối u thần kinh đệm, vì vậy, tế bào này có thể coi là một phương tiện chuyên chở trong liệu pháp tế bào điều trị trúng đích loại u này.

Mục đích

Đánh giá hiệu quả của liệu pháp tiêm tế bào gốc trung mô phủ nanopaclitaxel trên mô hình chuột có khối u thần kinh đệm.

Phương pháp

Ủ hạt nanopaclitaxel với tế bào gốc trung mô để tạo ra hỗn hợp tế bào gốc trung mô phủ nano paclitaxel. Sử dụng hệ thống nuôi cấy mô phỏng hàng rào máu não để đánh giá về sự di chuyển và độc tính của hỗn hợp này. Hoạt tính phân bố sinh học và kháng u được đánh giá trên mô hình chuột có khối u thần kinh đệm bằng cách tiêm hỗn hợp vào chuột.

Kết quả

Liều tối ưu của hỗn hợp tế bào gốc trung mô phủ nanopaclitaxel (1 pgpaclitaxel/tế bào) có ảnh hưởng rất ít tới khả năng di chuyển, phân chia và biệt hóa của tế bào gốc trung mô. Nghiên cứu sử dụng tế bào gốc trung mô gắn paclitaxel thông thường và paclitaxel dạng nano với mục đích giúp tiêu diệt tế bào khối u thần kinh đệm. Trên động vật thực nghiệm thì các hạt nano paclitaxel được đánh dấu sẽ xuất hiện ở khối u sau tiêm 2 ngày. Khả năng sống sót ở nhóm chuột có tiêm tế bào gốc trung mô gắn cả 2 loại paclitaxel thông thường và dạng nano thì tốt hơn so với nhóm chỉ sử dụng tế bào gốc trung mô gắn với một trong hai loại paclitaxel.

Kết luận

Dựa vào thời gian và khả năng chuyển paclitaxel từ tế bào gốc trung mô sang khối u, có thể cho thấy tế bào gốc trung mô chứa hạt nano paclitaxel cho hiệu quả trong điều trị u thần kinh đệm. Incorporation of chemotherapeutic drug-loaded NPs into MSCs is a promising strategy for tumor-targeted therapy. Do vậy, sự phối hợp giữa liệu pháp tế bào gốc trung mô phủ hóa chất dạng nano là hướng mới trong điều trị đích các bệnh ung thư.

Nguồn Int J Nanomedicine. 2018; 13: 5231–5248.

ungthubachmai.vn

 

BSNT. Tống Thị Huyền,

GS. Mai Trọng Khoa, PGS. TS Phạm Cẩm Phương (Dịch)

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai

 

Một số tác nhân nhiễm trùng được biết tới là có mối liên quan làm tăng nguy cơ phát triển của ung thư. Theo một nghiên cứu gần đây được công bố trên tạp chí Lancet Global Health, tỉ lệ ung thư liên quan đến nhiễm khuẩn cao hơn kỳ vọng. Nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu của GLOBACAN 2018 về tỉ lệ hiện mắc và tỉ lệ tử vong để đánh giá các loại ung thư đặc biệt đã được biết đến là có liên quan đến 10 tác nhân nhiễm trùng.

            Theo phân tích năm 2018 có 2,2 triệu trường hợp ung thư được cho là do tác nhân nhiễm khuẩn, tương ứng với tỉ lệ hiện mắc chuẩn theo tuổi (Age –standardized incidence rate: ASIR) là 25/100.000 người năm. Phần lớn các trường hợp ung thư mới phát hiện mới này có liên quan với Helicobacter pylori (810.000 ca mới mắc trong năm 2018; ASIR là 8,7), human papillomavirus (HPV là 690.000 ca mới mắc, ASIR là 4,1) và viêm gan virus C (160.000 ca mới mắc; ASIR là 1,7). Trong khi nam giới và nữ giới bị ảnh hưởng tương đương nhau do các tác nhân sinh ung thư, các tác nhân nhiễm khuẩn và các loại ung thư khác nhau. Ví dụ như, nữ giới thường hay mắc ung thư do nhiễm HPV, trong khi nam giới hay bị ung thư do nhiễm H.pylori. Vị trí địa lý cũng ảnh hưởng đến tỉ lệ ung thư. Tỉ lệ nhiễm khuẩn được cho là gây ung thư hay xảy ra ở miền Đông Á (ASIR là 37,9/100.000người/năm) và vùng Châu Phi cận Sahara tỉ lệ này là 33,1/100.000người/năm. Gần 1/3 trường hợp ung thư do nhiễm khuẩn xảy ra ở Trung Quốc được cho là chủ yếu liên quan nhiễm H. pylori và Viêm gan virus B.

            Các nhà nghiên cứu kết luận rằng tác nhân nhiễm khuẩn chịu trách nhiệm trong việc gia tăng tỉ lệ ung thư và liên quan trực tiếp trong dự phòng sự lây lan của nhiễm khuẩn liên quan với ung thư, đặc biệt ở nhóm nguy cơ cao.

ungthubachmai.vn

 BSNT. Đinh Xuân Mạnh

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu - Bệnh viện Bạch Mai

   

CN. Nguyễn Thị Thu Giang

Đơn vị Gen – Tế bào gốc,

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai

 

Trong nhiều năm, phác đồ EXTREME được sử dụng để điều trị bước một cho ung thư biểu mô vảy vùng đầu cổ (squamous cell carcinoma of the head and neck – SCCHN) tái phát/ di căn. Phác đồ này là sự kết hợp của hóa trị trên nền plantinum, 5-fluorouracil (5-FU) và cetuximab, sau đó điều trị duy trì cetuximab. Phác đồ này cho thời gian sống còn toàn bộ (overall survival–OS) khoảng 10 tháng. Nó có độc tính đáng kể nhưng những bệnh nhân phù hợp có thể chịu được. Liệu pháp miễn dịch sử dụng thuốc ức chế PD-1 như nivolumab và pembrolizumab gần đây đã trở thành tiêu chuẩn điều trị cho những bệnh nhân tái phát hoặc di căn sau khi điều trị thất bại với hóa trị trên nền platium dựa trên các tiêu chí thời gian đáp ứng kéo dài, sự cải thiện tỉ lệ sống, hồ sơ các độc tính thường gặp và sự cải thiện chất lượng sống.

Tại hội nghị của Hiệp hội Ung thư Y khoa Châu Âu năm 2018 (European Society for Medical Oncology–ESMO) năm 2018, tiến sỹ Barbara Burtness (Trung tâm Ung thư Đại Học Yale, New Haven, Connecticut) đã trình bày các kết quả cập nhật mới nhất của nghiên cứu ngẫu nhiên pha III Keynote-048 so sánh hiệu quả của điều trị bước một pembrolizumab khi được dùng đơn trị và kết hợp với hóa trị platium phối hợp 5-FU so với phác đồ chăm sóc tiêu chuẩn hiện nay (EXTREME) trên những bệnh nhân SCCHN tái phát/di căn. Các điểm khác biệt chính trên cả hai nhánh có sử dụng pembrolizumab so với EXTREME là tỉ lệ sống không tiến triển (progression-free survival–PFS) ở nhóm cótỉ lệ dương tính kết hợp (combined positive score–CPS) PD-L1≥20, CPS≥1 và cỡ mẫu.

Đơn trị pembrolizumab cho kết quả cải thiện OS 4,2 tháng so với phác đồ EXTREME trên những bệnh nhân có CPS PD-L1≥20 (14,9 tháng so với 10,7 tháng; HR 0,61, P=0,0007). Trên những bệnh nhân có CPS≥1, đơn trị pembrolizumab cho hiệu quả cải thiện OS ít hơn so với phác đồ EXTREME nhưng vẫn có ý nghĩa (12,3 tháng so với 10,3 tháng; HR 0,78, P=0,086). Không có cải thiện trung bình PFS khi đơn trị pembrolizumab bất kể mức độ biểu hiện PD-L1, dù PFS 2 năm chiếm ưu thế. Phác đồ EXTREME cho tỉ lệ đáp ứng toàn bộ (overall response rate–ORR) cao hơn đơn trị pembrolizumab nhưng thời gian đáp ứng pembrolizumab kéo dài hơn trên cả nhóm CSP≥20 (20,9 tháng so với 4,2 tháng) và nhóm CPS≥1 (20,9 tháng so với 4,5 tháng).

Đơn trị pembrolizumab được dung nạp tốt và gặp các phản ứng có hại (adverse events–AE) ít hơn so với phác đồ EXTREME. AE độ 3/4 xảy ra ở 16,7% bệnh nhân dùng pembrolizumab và ở 69,0% bệnh nhân dùng phác đồ EXTREME. Có nhiều AE liên quan phản ứng miễn dịch trung gian xảy ra trên nhánh điều trị pembrolizumab (30,3% so với 23,7%) nhưng thường nhẹ và chủ yếu ở mức độ 1/2, thường gặp nhất là pembrolizumab là suy giáp, viêm phổi, cường giáp và phản ứng da nghiêm trọng.

Điều trị phối hợp pembrolizumab và hóa trị cho kết quả cải thiện OS đáng kể so với phác đồ EXTREME bất kể mức độ biểu hiện PD-L1 (13,0 tháng so với 10,7 tháng; HR 0,77, P=0,0034). Không có sự cải thiện về PFS hay ORR nhưng nhóm bệnh nhân điều trị phối hợp pembrolizumab và hóa trị có thời gian đáp ứng kéo dài hơn (6,7 tháng so với 4,3 tháng). Điều trị phối hợp pembrolizumab và hóa trị có tỉ lệ AE tương đương với phác đồ EXTREME, tỉ lệ AE độ 3/4 tương tự nhau (71,0%so với 69,0%), tỉ lệ AE phản ứng miễn dịch trung gian cũng tương tự nhau (25,7% so với 23,7%).

Tiến sĩ Burtness kết luận rằng những hiệu quả ấn tượng về OS và các độc tính có thể kiểm soát được của phác đồ đơn trị pembrolizumab đã cho thấy đây là một tiêu chuẩn điều trị mới cho những bệnh nhân SCCHN tái phát hoặc di căn có PD-L1 dương tính, trong khi đó, phác đồ kết hợp pembrolizumab với hóa trị nên được sử dụng trên những bệnh nhân không có biểu hiện PD-L1 hoặc không biết mức độ biểu hiện PD-L1. Thảo luận về vấn đề này, Tiến sĩ Jean-Pascal Machiels (Đại học Louvain, Brussels, Bỉ) đã đồng ý rằng hiện nay, pembrolizumab nên được coi là tiêu chuẩn điều trị bước đầu cho hầu hết những bệnh nhân SCCNH tái phát/di căn nhưng nhấn mạnh rằng phác đồ EXTREME vẫn có thể là phương pháp điều trị khả thi trên những bệnh nhân gánh nặng bệnh đang tăng lên, cần phải có những đáp ứng nhanh hoặc những bệnh nhân có CPS 0. Ông cũng chỉ ra tầm quan trọng của việc xác định CPS trên những bệnh nhân SCCHN tái phát/di căn. Ngoài ra, ông cũng thảo luận về trình tự các phương pháp điều trị khả thi tiếp theo dựa trên phương pháp đã điều trị bệnh nhân bước đầu: trên những bệnh nhân đã đơn trị pembrolizumab có thể là hóa trị trên nền platinum, trên những bệnh nhân đã tiến triển sau khi điều trị EXTREME có thể là liệu pháp miễn dịch; tuy nhiên, vẫn chưa có dữ liệu về phương pháp điều trị trên những bệnh nhân tiến triển sau khi điều trị phối hợp pembroizumab và hóa trị trên nền platinum.

Nguồn:Theo https://www.esmo.org/Press-Office/Press-Releases/KEYNOTE048-head-neck-cancer-immunotherapy-Burtness" target="_blank">Ann Oncol. 2018; 29 (Suppl 8)

https://www.primeoncology.org/primelines/first-line-pembrolizumab-superior-extreme-metastatic-scchn/?utm_campaign=PrimeLines&;utm_source=hs_email&utm_medium=email&utm_content=67954085&_hsenc=p2ANqtz-8ND-zUZdxAwyLhh3ORaEBEcquTzgmipsKQmvCbQ7kYVbg3ybtZ0PxuuKWlH8re4l0bBUlK_2b0oFVGhRl-FnR8Ec_hfg&_hsmi=67954085

ungthubachmai.vn

Quy trình điều trị ung thư tuyến tiền liệt bằng phương pháp cấy hạt phóng xạ I-125

Đánh giá thang điểm PIRADS trên hình ảnh MRI của tuyến tiền liệt

Sàng lọc ung thư phổi: Ai, khi nào, tại sao phải sàng lọc (Tổng hợp từ NCCN, ESMO, ASCO, CDC)

Một số phương pháp điều trị ung thư tuyến tiền liệt

Gen BRCA1 – BRCA2 trong ung thư vú và buồng trứng di truyền

Điều trị đích và cá thể hóa điều trị trong ung thư phổi

Đào tạo liên tục "Cập nhật trong sàng lọc, chẩn đoán và điều trị ung thư gan nguyên phát"

Cập nhật điều trị u thần kinh nội tiết đường tiêu hóa

Page 2 of 7

Tem dan Don vi Gen tri lieu 1

logo bach mai 2

Hỗ trợ  

Joomla Templates and Joomla Extensions by ZooTemplate.Com
Hotline: 1900575758 phím 2

Clip

Đối tác chiến lược

chung cư imperia garden

Quảng cáo

Banner

Hình ảnh tiêu biểu

Đối tác chiến lược

chung cư imperia garden

Thống kê

Members : 15813
Content : 1268
Web Links : 3
Content View Hits : 358441